Môn Phái Võ Thuật

Giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển của các môn phái võ thuật, các tổ chức võ thuật, giải đấu...

Yoga Thể Thao Và Sức Khỏe

Chia sẻ các kiến thức về Yoga, giúp bạn có một cơ thể khỏe mạnh và dẻo dai. Cập nhật liên tục kiến thức tập luyện Yoga hiệu quả nhất.

Đạo Của Võ Học

Võ đạo là cái đạo của người học võ, cái đạo của con người sống trong trời, đất, được thể hiện một cách sinh động qua bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế-xã hội và cốt cách con nhà võ, cùng với quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu tâm, dưỡng tính gắn với các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng ngay từ lúc sinh ra đến khi nhắm mắt lìa đời.

Binh Khí Và Các Trang Bị Hỗ Trợ Tập Luyện

Binh Khí Võ Cổ Truyền Gồm 18 môn tương ứng với 18 món binh khí: côn, kiếm, đao, thương, giáo, kích, xà mâu, đinh ba, bồ cào, thiết bản, song tô, song xỉ, song câu, bút, phủ (búa), chuỳ, cung tên, lăn khiên.

Nhân Vật Giai Thoại

Lịch sử, thân thế sự nghiệp của các danh gia võ thuật. Chuyện về các kỳ tích, giai thoại cổ kim trong làng võ.

Showing posts with label Võ Đạo. Show all posts
Showing posts with label Võ Đạo. Show all posts

Tuesday, December 6, 2016

Nguyên lý bất phân tranh trong võ đạo chân chính

Khi nói tới võ, ngươì ta nghĩ ngay tới một nghệ thuật chiến đấu, nghĩa là phải có giao tranh. Vì vậy, nói tới bất phân tranh trong có vẻ như một nghịch lý.




Tuy nhiên,võ thuật không đơn thuần là một nghệ thuật chiến đấu, mà còn là đạo, là một triết lý sống. Điểm khởi đầu và kết thúc của võ đạo chân chính là nguyên lý bất phân tranh.

Để tìm hiểu nguyên lý này, ta cần xem xét tới căn nguyên của các môn võ cổ Đông phương: lý thuyết nhất nguyên phân cực của thuyết Âm-Dương. Theo thuyết này, vũ trụ và mọi vật bên trong nó đều phát sinh từ một thể thống nhất mà người Trung Hoa gọi là Thái cực, người Ấn độ gọi là Cũnyatâ, người Nhật gọi là Kù (AiKi), dịch theo nghĩa Triết học là “vũ trụ tinh khí tiền phân cực”. Ngày nay, vật lý học hiện đại cũng giả định rằng vũ trụ được phát sinh từ một vụ nổ lớn (Big Bang) của một thể thống nhất. Triết học Đông phương quan niệm rằng Thái cực là một thể thống nhất, trong đó không có khái niệm nóng-lạnh, không có độ xa-gần không gian, không có sự lâu-mau thời gian, không có đứng yên, không có chuyển động… Thái cực là một uy lực uyên nguyên tự tại, vô thủy,vô chung. Chỉ sau khi phân cực tạo thành vũ trụ, các khái niệm nhị nguyên nóng-lạnh, xa-gần, lâu-mau, tĩnh-động mới hình thành.

Ngày nay,bị giam hãm trong một thế giới nhị nguyên,con người thường cho rằng tranh đấu là lẽ đương nhiên, muốn tồn tại phải tranh đấu, mà họ quên đi mất bản chất, hình thể của vũ trụ. Chính điều này đã làm cho con người dần dần tách rời mối liên hệ giưã mình và vũ trụ, nghĩa là dần dần đánh mất đi sức mạnh đích thực của mình.

Mục đích tối hậu của võ đạo là đưa con người tìm về với căn nguyên bản thể của mình, từ đó phát lộ được sức mạnh chân chính và đích thực của mình.Vì vậy, trong võ đạo phải trừ tuyệt mọi ý nghĩ nhị nguyên về giao đấu, hơn-kém để giác ngộ được sự thống nhất giữa vạn vật, giác ngộ được cội nguồn của vạn vật là Thái cực. Điều này giải thích vì sao võ đạo lại khởi đầu và kết thúc bởi nguyên lý bất phân tranh.

Nguyên lý bất phân tranh phát biểu rằng bởi vì vũ trụ và mọi sự vật bên trong nó đều phát sinh từ một nguồn gốc,nên mọi hình thức giao tranh đều là phi lý và đi ngược lại quy luật của vũ trụ. Đây là nguyên lý chính yếu của võ đạo Đông phương, và có ghi trong Bushido- bộ luật võ sĩ đạo của các chiến binh samourai Nhật bản.
Có một số bạn trẻ có luyện võ nói:”Đồng ý! Nghe thì hay lắm! Nhưng khi có một kẻ lăm lăm nắm đấm xông vào ta, thì áp dụng nguyên lý bất phân tranh thế nào đây?”.
Thực ra, nguyên lý bất phân tranh, cũng như nhiều nguyên lý khác, có nhiều tầm mức và phạm vi áp dụng khác nhau.

Ở mức thấp nhất, là khi ta bị đưa đẩy tới một trận chiến đấu không thể tránh khỏi. Trong đời sống, cũng có khi bắt gặp tình huống này, ví dụ như ta gặp trộm cướp hay côn đồ. Trong một trận chiến đấu, ta chỉ có thể bị bại nếu như ta trúng đòn của đối phương. Mà ta chỉ có thể trúng đòn của đối phương khi ta chịu lãnh đòn đó, tức là lấy lực của mình chọi với lực của hắn. Trong trường hợp này, nguyên lý bất phân tranh được biểu lộ bằng cách dùng lực của đối phương, nương theo lực của đối phương để chế ngự đối phương, nói cách khác là ta để cho hắn sử dụng lực của hắn theo ý của ta, và bị đánh bại do lực của hắn.Võ sư Jigoro Kano, người sáng lập ra môn Nhu đạo, nói: “Ta có ba lực, địch thủ có bảy lực. Nếu ta đem ba lực của ta chọi với bảy lực của địch thủ, nhất định ta sẽ bị thua. Nếu ta biết lợi dụng lực của địch thủ, ta có mười lực, còn hắn chỉ có bảy. Phần thắng chắc chắn thuộc về ta vậy”.

Nguyên lý bất phân tranh đã nâng võ thuật thoát khỏi lẽ tầm thường “mạnh được, yếu thua”. Thực ra,nếu cứ khỏe là thắng thì chả cần tới võ thuật để làm gì.
Nhưng đó mới là nguyên lý bất phân tranh ở mức độ thấp nhất, nghĩa là dùng trong chiến đấu. Một qui tắc trong chiến tranh, mà bất kỳ một samourai nào tại Nhật cũng phải học, có nói về các mức độ chiến thắng:
Mức thấp nhất là thắng trận sau khi giao tranh, tức là ta giành chiến thắng bằng cách đánh bại đối thủ của ta.
Mức trung bình là giao tranh sau khi thắng trận, tức là ta dẫn dụ đối thủ vào những điều kiện tất yếu dẫn tới thất bại, rồi mới đánh bại hắn.

Mức cao nhất là thắng trận mà không cần giao tranh, nghĩa là ta khuất phục địch thủ bằng lẽ phải và tinh thần yêu thương.
Nếu phải thắng trận,tại sao ta lại không thắng theo lối cao thủ nhất ? Thật thà mà nói, đó còn là lối chắc chắn và an toàn nhất, vì chả cần đấm đá gì cả.
Trong đời sống, trừ ra một vài trường hợp cực kỳ hãn hữu, ta có thể tránh được mọi vụ cãi lộn, miễn là ta luôn giữ được điềm tĩnh và diệt bỏ được tư tưởng về chiến đấu trong tim ta.

Điều này đòi hỏi một tinh thần mạnh mẽ và một ý chí kiên định.
Những kẻ yếu đuối, hay khóc lóc than van, chẳng chống cự ai và cảm thấy yên ổn khi mình không chống lại ai, thì không phải là những người thấm nhuần nguyên lý bất phân tranh.
Đem nhốt mọi lời nói và hành động của đối thủ vào trong lòng ta, đó cũng không phải là bất phân tranh thực sự ; đó là sự chịu đựng. Cho dù miệng ta không nói ra, nhưng trong lòng ta rất đau đớn và sôi sục muốn trả thù. Đó cũng là một hình thức đấu tranh.
Cái bất phân tranh mà chúng ta đang nói đến chỉ hình thành nếu ta không ôm ấp một mối căm thù nào với bất cứ ai, với một lòng khoan dung như biển cả, thu nhận được mọi con sông, ta vẫn giữ được sự bình tĩnh trong tâm hồn ta.

Mỗi khi có sự việc gì xảy tới, ta nên giữ sự điềm tĩnh, xem xét sự việc với lòng khoan dung và lẽ công bằng. Khi ta đã xem xét sự việc một cách tỉnh táo, với tinh thần thiện chí, lẽ dĩ nhiên người cũng đem thiện chí đối đãi với ta, hành động của ta và người sẽ tìm ra con đường đúng. Đó chính là giải pháp dẫn tới tinh thần yêu thương và hòa hảo.
Bạn bè trong võ lâm thắc mắc :”Hay lắm.Nhưng điều này chỉ áp dụng được khi người cũng điềm tĩnh và công bằng như ta. Mà đã xô xát thì ít người biết điều lắm.”.

Thực ra, lòng khoan dung cảm hóa được cả thú dữ. Chuyện xưa có kể rằng một võ sư có một môn đệ rất tài giỏi. Một ngày kia, khi đi chơi với bè bạn, bất ngờ bị một con ngựa dữ đá, anh đã lẹ làng tránh khỏi. Bạn bè phục lắm, và về kể lại cho vị võ sư. Ông chỉ lắc đầu mà bảo rằng chả có gì là tài giỏi hết. Mấy người học trò liền lập mưu lừa cho vị võ sư cho đứng gần con ngựa kia. Suốt cả buổi ông ung dung đứng đó trò chuyện với các môn đệ mà không có gì xảy ra.Về sau, trong buổi tập, ông giảng một câu :”Chính thái độ hòa nhã và tinh thần yêu thương làm cho người mất tinh thần chiến đấu với ta.”.

Đó chính là nguyên lý bất phân tranh áp dụng ở mức độ cao nhất vậy. Muốn đạt tới trình độ này, người luyện võ phải khổ luyện từng phút, từng giây không lơi lỏng, phải giữ cho mình một tinh thần trong sáng, một sự khoan dung, một tình yêu thương rộng lớn và luôn theo lẽ công bằng.
Vì nguyên lý bất phân tranh dẫn dắt con người đi theo con đuờng đúng, với tinh thần yêu thương và hòa hảo,nên nó là đỉnh cao, là điểm kết thúc của võ đạo.

Thấu triệt nguyên lý này, người với người cùng có một tinh thần mạnh mẽ, một tâm hồn cao thượng, và cuộc sống sẽ tràn đầy hòa bình cùng tình yêu thương.


Monday, December 5, 2016

Luận về chữ Lễ trong Võ Đạo

Người luyện võ rất coi trọng lễ và giữ lễ. Trong thời đại giao lưu, hội nhập; khi các mối quan hệ xã hội trở nên mong manh, các giá trị truyền thống dễ bị lung lay, biến dạng, cả hoà tan; xem ra chỉ có võ là còn giữ truyền thống “tôn sư trọng đạo”, là còn trọng lễ và giữ lễ.



Monday, November 28, 2016

Dạy võ là dạy đạo làm người là nền tảng

Với con nhà võ, nơi tập võ không phải là Câu Lạc Bộ như nhiều người nghĩ, mà là một Võ đường, Đạo đường; người Nhật gọi là Dojo (Jo là nơi, Do là đạo đức. Dojo là nơi trui rèn đạo đức).



Friday, November 11, 2016

Võ thuật & Đạo làm Người





Nói về Đạo trong võ học, là nói về Đường lối, là Chân lý, là Giáo Dục. Võ học chính thống – cho dù võ Việt Nam, võ Nhật, võ Trung Hoa, Đại Hàn, hay bất cứ môn phái của  dân tộc nào cũng có Đạo. Võ Học 
có năm Đạo: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
Những năm đầu thập niên 60, khi tôi mới bước vào võ đường Nhu Đạo Judonam trên đường Chi Lăng, tôi rất hồi hộp, lo ngại vì không biết mình có đủ khả năng tập luyện hay không. Hồi đó tôi chưa đủ 50 kí lô, lại hay bị xây xẩm bất ngờ, trong khi thấy các sư huynh, sư muội quật nhau rầm rầm, nên hơi hoảng.
Nhưng đồng thời tôi lại thấy kích thích, hào hứng vì nhìn những đàn anh đàn chị bay trên 5,7 người quỳ gối, lộn qua, lộn lại, té đằng trước, ngã đằng sau, trông thật đẹp mắt.
Rồi những buổi đầu tiên tập luyện đã qua đi, tôi đã mê man với các thế tập và thấy rằng võ học thật tuyệt vời, để sau đó hào hứng ghi tên đi học luôn 12 buổi một tuần, sáng 2,4,6 học Judo, sáng 3,5,7, học Aikido, chiều 2,4,6 học Karate, chiều 3,5,7 học Jujitsu và Kendo. Tôi say mê học võ để bị thương tật, gẫy cổ tay, gẫy lưng, rớt ngón tay ngón chân, quẹo cùi chỏ, bị mẹ đánh cho nhừ tử, đốt cả quần áo võ sinh.
Tôi phải mượn quần áo của bạn để mặc, xin tiền chị hai để đóng tiền học. Đau khổ nhất là tôi quên cả học chữ, nên thi Tú Tài Một rớt luôn hai kỳ, phải học lại một năm. Đến kỳ thi đầu năm sau, cũng rớt, bị mẹ đánh đòn, các anh chị la, tôi buồn quá, tính tự tử luôn cho rảnh nợ.
Tôi leo lên nóc nhà hai tầng, ngồi trên đó, khóc một hồi, rồi toan nhẩy xuống, nhưng chợt trong đầu tôi nhớ lại lời thầy Nguyễn Bình dặn đi dặn lại:Thắng không kiêu, bại không nản”. Tỉnh trí lại, tôi tà tà leo xuống, nghiến răng học như điên, và kỳ thi thứ hai, đậu rất cao. Bây giờ nghĩ lại, mới nghiệm thấy trong võ học có đạo, và điểm đầu tiên về Đạo trong võ học là “Thắng không kiêu, bại không nản.” Đó là một Đạo trong võ học.
Nói về Đạo trong võ học, là nói về Đường lối, là Chân lý, là Giáo Dục. Võ học chính thống, thì cho dù là võ Việt Nam, võ Nhật, võ Trung Hoa, Đại Hàn, hay bất cứ môn phái của dân tộc nào cũng có Đạo. Nói chung, Võ Học có năm Đạo: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

1. Chữ Nhân

“Nhân” có nghĩa là lòng thương người, trên căn bản Nhân đạo. Võ học chính thống luôn dậy người phải có lòng Nhân. Học võ không phải để hại người, để khoe tài, để kiêu căng, chà đạp người khác, mà học võ là để vừa Tự vệ vừa để bảo vệ người yếu đuối. Không một môn võ chính thống nào dậy võ sinh là học xong, các trò phải đi xưng hùng xưng bá, phải giết chết địch thủ như trong các phim chưởng, truyện chưởng mà chúng ta thường xem. Tất cả những điều đó chỉ là kết quả của sự tưởng tượng, nhất là đối với dân tộc Việt Nam chúng ta.
Nếu lần giở lại lịch sử trên 4000 năm văn hiến, từ khi lập quốc đến nay, đến thời đại chúng ta, từ Nam, qua Trung, ra Bắc, chưa hề bao giờ nghe nói đến có những môn võ nào dậy đệ tử đi làm hại người cả. Ngược lại, chỉ thấy những môn võ rèn luyện môn sinh để giữ gìn đất nước, bảo vệ người cô thế. Đến khi những môn võ nước ngoài du nhập vào đất nước ta, cũng chỉ nghe nói đến chữ “Nhân” trong võ học. Các đòn thế đấm, đá, vật, xiết cổ, đè, quăng, ném đều hạn chế người xử dụng tới một điểm nào đó. Những cú đánh kết liễu chỉ được dành cho các môn sinh ở trình độ cao, có thể tự điều khiển được mình rồi, mới được học cách xử dụng, với lời căn dặn là “chỉ khi nào nguy cấp, không còn cách tự vệ nào khác, mới được áp dụng đòn hiểm để thoát thân.” Do đó, từ cả trăm năm nay, không mấy ai nghe nói đến có những trường hợp tử vong chỉ vì người xử dụng võ thuật nóng giận, đấm đá kẻ địch đến chết hoặc chết vì thách đấu.

2. Chữ Nghĩa

Một khi nói đến chữ “Nghĩa”, người ta thường nghĩ ngay đến “Nghĩa hiệp” và “hành hiệp trượng nghĩa”. Mà muốn hành hiệp trượng nghĩa, cứu khổn phò nguy, thì phải biết võ nghệ. Do đó, võ học đi liền với “nghĩa”. Người học võ thường thích ra tay nghĩa hiệp. Giữa đường thấy chuyện bất bằng là phải ra tay ngay. Nghĩa còn dậy chúng ta phải biết trả ơn một khi đã nhận ơn. Người học võ thường không bao giờ muốn nợ ai mà không trả. Nhất là nghĩa Thầy, Cô, nghĩa Sư Phụ, Đệ Tử. Học chữ có thể quên Thầy, nhưng học võ thì không bao giờ có thể không nhớ ơn Thầy đã nắm tay, cầm chân, chỉ cho một thế đá, thế đấm, không thể quên lời Thầy dặn dò, chỉ bảo, hoặc gắt mắng chỉ vì lo cho môn sinh mau tiến bộ, mà lại không gây thương tích cho chính mình hoặc cho người khác.

3. Chữ Lễ

Lễ là hình thức cư xử giữa môn sinh và Thầy Cô, giữa các môn sinh với nhau, giữa môn sinh của môn phái này và môn phái khác. Lễ được thể hiện ngay ở cách chào kính, bái tổ trước khi bước ra sân đấu. Tùy theo môn phái, mà cách chào kính, bái tổ khác nhau, thường thì bái Tổ sư, kính Thầy, chào bạn, có môn phái chào cả khán giả, có môn phái lại chào cả nơi chốn mà mình tập luyện, song đấu nữa. Trong môn phái Nhu Đạo, khi thi lên đẳng cấp đai đen, ngoài thi song đấu, thi kỹ thuật còn thi Lễ nữa. Các võ sinh đai đen phải di chuyển từng bước chân, từng cử động thật chậm đúng Lễ Nghi, đúng phong thái mới được trao bằng. Chữ Lễ trong võ học còn dậy các môn sinh quy củ trường tập, kính trên nhường dưới. Lễ dậy cách bảo vệ danh dự của Môn phái, bảo vệ danh dự cho nhau. Người đã tập võ chân chính càng ngày càng cung kính, nhún nhường, không cao ngạo, không tự phụ, khoe khoang, không biểu diễn võ công khi không cần thiết. Chữ “Lễ” trong Võ học được trọng kính và áp dụng hơn rất nhiều chữ lễ trong khi học chữ. Người Thầy trong Võ học khi xưa còn có quyền sinh sát với môn sinh hơn cả cha mẹ nữa cũng chỉ vì chữ “Lễ”.

4. Chữ Trí

Người học võ nhất định phải học những cách phản công, xử thế trong các trường hợp ngặt nghèo. Môn võ nào cũng dậy cách biến hóa, phản đòn, nghĩa là dậy các môn sinh dùng Trí tuệ đi kèm theo Võ thuật. Không có Trí, võ chỉ là những đòn hùng hục như trâu, gặp đối thủ lanh lợi thì nhừ đòn. Trí trong các môn võ học chính thống không phải là lường gạt, mưu mô, mặc dù có đòn hư, đòn giả. Người võ sinh chính nhân quân tử chỉ dùng Trí để không cho địch thủ biết mình định xủ dụng đòn nào thật, đòn nào giả. Những cạm bẫy để lừa gạt người không phải là Trí mà chỉ là phương pháp tiểu nhân mà thôi. Ngoài ra, các môn võ chân chính cũng dậy môn sinh phải biết suy nghĩ để cho võ thuật được xử dụng đúng lúc và đúng cách hầu đúng với câu :Một trí tuệ minh mẫn trong một thân thể tráng kiện.

5. Chữ Tín

Không cần phải giải thích nhiều, ai cũng hiểu, người có võ học luôn biết giữ chữ Tín của Người Anh Hùng, đã nói là làm, đã hứa là phải giữ lời. Người có chữ Tín thà chết không để cho danh dự bị xúc phạm vì nói mà không giữ lời. Trong chiến tranh, đã biết bao võ sinh hy sinh thân mình chỉ vì một chữ Tín với Giang Sơn, Tổ Quốc.
Tóm lại, nói đến Võ Học là nói đến Đạo, đến Lễ Nghĩa, Trung Tín, đến Danh Dự, đến lòng Nhân Từ và Trí Tuệ. Võ học không chỉ là tay đấm, chân đá, quật, vật, ném, tung mà là cả một hệ thống Đạo trầm ẩn, thâm sâu. Người học võ thâm thúy cũng như người tu đạo. Cho nên, khi nhìn một vị Tôn Sư thật sự, chúng ta tự nhiên thấy kính nể, vì những ưu trầm của Đạo đã thể hiện lên khuôn mặt cũng như một vị tu hành đã thành chánh quả. Không khắc khổ, cau có, không giận bùng, không buồn bã. Chỉ cất tiếng Sư Tử Hống để áp đảo địch thủ, chứ không nổi giận gào thét bất thường. Chỉ ra tay vũ bão để giảm nhẹ đau thương, chứ không biểu diễn, dậm dọa người cô thế. Võ học cao quý như thế nên võ học chính thống càng ngày càng thịnh. Những thế võ quái đản, hại người, hại thân như của Nhạc Bất Quần, Đông Phương Bất Bại như trong chuyện Chưởng thì tự nhiên dần dần tàn lụi.


Võ thuật không chỉ là môn học về kỹ thuật luyện tập chiến đấu, không chỉ là một môn nghệ thuật mà còn là môn khoa học nữa. Bởi vì hình thức của nó được xây dựng từ các lý thuyết căn bản của khoa học tự nhiên như vật lý học, sinh học đồng thời nội dung của nó chứa đựng lý thuyết của khoa học xã hội như
triết học, nhân văn….. Tính triết lý và nhân văn đó chính là nét để khu biệt võ thuật với các môn thể thao khác. Bởi lẽ người ta chỉ gọi là Nhu đạo (Judo), Không thủ đạo (Karate), Hiệp khí đạo (Aikido), Thái cực đạo (Teakowndo) chứ không ai gọi là bóng đá đạo, cầu lông đạo hay quần vợt đạo bao giờ cả. Chữ “Đạo” trong võ được xã hội hóa và ăn sâu trong máu thịt các dân tộc có nền võ học lâu đời như Nhật bản, Trung quốc, Triều tiên, Việt nam …… Như vậy, võ học được hình thành từ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức, tất cả mọi chuyển động cơ học của các kỹ thuật tay chân đều ngầm chứa nội dung mang tính đạo lý và nhân bản sâu sắc. Suy cho cùng, trong sâu xa võ có hai phần: thuật và đạo. Thuật chỉ đủ để giúp người ta biết võ. Còn đạo mới đưa người ta đến tận cùng của cái biết võ mà hành võ. Đạo chính là đẳng cấp cao nhất mà người tập võ chân chính phải phấn đấu đạt đến.
Tiếng “Đạo“ của người phương Đông – nơi nhu cầu và tài nghệ con người được nghệ thuật hóa và triết học hóa tới cao độ. Quả thật, chưa có một từ ngữ tương đương nào của người phương Tây có thể dịch thoát, vì đạo ngoài ý nghĩa là “con đường“, là “thông lộ” còn bao hàm cả ý nghĩa về tôn giáo, luân lý và nghệ thuật. Ví dụ : Uống trà là nhu cầu thông thường, nhưng biết cách thưởng thức trà và những ý nghĩa thanh cao của việc uống trà kết bạn, giúp ích xã hội thì đó là Trà Đạo. Ngắm nghía và thưởng ngoạn hoa là thú vui thông thường trong cuộc sống, nhưng biết cách thưởng ngoạn như 1 nghệ thuật và nâng cao nữa về đạo lý giúp ích cho cuộc sống thì là Hoa đạo… vv…..
Khác võ thuật Trung Hoa cũng như Việt Nam nặng về xuất thế và cố giữ vị thế độc lập với chính trị, võ thuật Nhật Bản có truyền thống hội nhập ngay vào mọi sinh hoạt chính trị để hình thành một giai cấp trong xã hội Nhật Bản đó chính là tầng lớp Samourai (Võ Sĩ Đạo). Người Võ Sĩ Đạo được huấn luyện ngay từ nhỏ những kỹ thuật chiến đấu tay không và vũ khí rất lành nghề và quan trọng nhất vẫn là rèn luyện tinh thần Nhật Võ Đạo với những điều luật được ghi chép rõ ràng. Tinh thần đó tạo nên nét đặc trưng của người Võ Sĩ Đạo, bao gồm 5 đức tính tính chính (sự ngay thẳng, đức can đãm, lòng nhân từ, đức lễ phép, đức tự kiểm) và 3 đức tính phụ (đức vâng lời, đức trung tín, đức yêu việc).
Xưa nay các môn võ phương Đông dù khác nhau ở chiêu thức, nhưng đều có điểm giống nhau ở môn qui: không phản môn, phản thầy; không khoe tài, không ỷ lực hiếp người; không háo sắc, loạn dâm; không thắng vui, thua buồn… Tuy nhiên, người Nhật Bản có điểm khác biệt cơ bản các dân tộc ở quốc gia châu Á khác như Việt Nam, Trung Quốc và nhất là tại các nước Tây phương, chính ở chỗ quan niệm về học võ của họ. Người Nhật Bản đến võ đường với mục đích cao quí là học tập và rèn luyện cái “Đạo” trong võ học, còn đòn thế và cách thi triển chỉ là thứ yếu. Trong khi ở Việt Nam người ta đi học võ với mục đích rất “tầm thường” và thiên về mục đích cá nhân. Họ đi học võ để tự vệ, học để giữ gìn sức khỏe bản thân, rèn luyện để chữa bệnh, để làm việc nghĩa hiệp bênh vực kẻ yếu, có khi chỉ vì bạn bè rủ rê cho vui ……“Trà như ẩn sĩ, rượu như hào sĩ, võ như lực sĩ. Rượu để kết bạn, trà để hưởng tĩnh, võ để luyện thần “
Người ta thường nói “võ nghệ “ hay “võ thuật” với hàm ý trong võ có nghệ thuật hay võ là một nghệ thuật đặc biệt nhằm chiến thắng hoặc chinh phục một đối thủ nào đó . Nhưng, người ta còn gọi là “võ đạo” , đó là một sự tôn xưng một khi võ thuật đã đạt được cái vi diệu, cái lẽ tối thượng của nó. Khi đó nó đã tự phát lộ được khả năng soi sáng, khả năng giác ngộ, để con người không chỉ vượt thắng đối thủ, vượt thắng ngoại giới, mà cái chính là “vượt thắng chính mình”, tự hoàn thiện nhân cách, tự soi sáng tâm linh mình qua một quá trình rèn luyện gian khổ, qua hành trên con đường chông gai để đạt tới đạo .Đạo ấy của võ cũng giống như đạo Thiền, là quá trình tự khai sáng. Tổ sư Phật giáo thiền tông Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) tương truyền vừa là người khai sáng đạo thiền vừa là người khai sáng môn võ Thiếu Lâm. Hành trình khai sáng ấy trải qua suốt 9 năm trời ông “diện bích” – quay mặt vào vách đá trong hang động trên đỉnh núi Tung Sơn để Tham Thiền nhập định, lấy cái tĩnh mở thông cho cái động, lấy sự tịnh tâm làm đích cho mọi hoạt động của mình sau này, dù đó là hoạt động tôn giáo hay võ thuật.
Có ai bước vào nghề võ mà không vài lần nghe thầy dạy bảo: “Khi mới học võ, tôi chỉ có mong muốn là nắm được đòn thế cao siêu. Lên được đai đen, đai đỏ, tôi lại muốn mình phải thật giỏi để đánh thắng người khác. Nhưng bây giờ, mục đích lớn nhất của tôi chính là phải chiến thắng chính bản thân mình”. Trên các bức tường của võ đường hay treo đại tự “Nhẫn”. Bởi chính đó là nền tảng hun đúc nên tinh thần thượng võ. Chuyện võ kể rằng: Có một đại cung thủ đã đạt đến mức độ thượng thừa có thể “bách bộ xuyên dương”, đi trăm bước ngoảnh đầu lại bắn trúng lá liễu. Cả đời cung thủ này chỉ có một tâm nguyện duy nhất là tìm người để được thua. Ngày kia, theo lời chỉ dẫn của giới võ lâm, anh quyết lên ngọn Hoa sơn thi thố tài năng với một đại sư lừng danh đã ẩn tu. Vị đại sư đồng ý cùng anh leo lên một mỏm đá cheo leo cao nhất. Giữa cuồng phong gào rít, cung thủ chỉ đứng không đã muốn té, nói gì giương cung, lắp tên thi bắn đại bàng. Cuối cùng anh chịu thua và chuyển cung cho vị đại sư trổ tài. Thật bất ngờ, đại sư lại vứt cung xuống vực rồi bình thản nói: “Tôi đã bỏ tiền ra mua được một con đại bàng thật đẹp, thì khổ chi phải leo lên tận đây chịu nguy hiểm để bắn nữa…”. Như tuyết rơi giữa mùa hè. Như tia chớp lóe sáng ngay buổi bình minh. Đầu óc cuồng mê bất bại của cung thủ ngỡ ngàng đại ngộ! Anh lặng lẽ xuống núi, bẻ cung, ngồi thiền và viết ra dòng chữ “Dụng ý bất dụng lực”.
Như vậy thì con đường cũa võ khá gần gũi và thân mật với con đường của người làm nghệ thuật, nó đều khởi từ tâm và qua một quá trình vận động lại trở về tâm, theo một đường xoáy trôn ốc nào đó. Có lẽ người điển hình cho sự hợp nhất hòa đồng giữa Đạo, Võ và Thơ là Lý Bạch. Là một thi hào bậc nhất , luôn đứng ở Top Ten các thi sĩ mọi thời đại, Lý Bạch cũng là một kiếm sỹ lừng danh , một đạo sỹ bí ẩn của Trung quốc.
Và cũng để nói rằng, ở đời tự vượt thắng mình là con đường gian khó biết bao, và con đường ấy dẫn tới “hòa nhi bất đồmg” – hòa mà không đồng – là dẫn tới những cá tính nghệ thuật của nghệ sỹ, dù là kiếm sỹ hay thi sĩ. Hòa với người, hòa với Đại Ngã, nhưng “bất đồng”– vẫn là mình như một cá tính sáng tạo, một cái gì không lặp lại, như những đường kiếm biến ảo, dù nó vẫn theo lực hướng tâm. Ngày nay, nhiều môn võ được đưa ra thi đấu quốc tế tranh thắng thua. Mặt tích cực của nó là giúp người luyện võ tinh thần phấn đấu, rèn luyện sức khỏe, võ thuật. Nhưng nếu chỉ chú tâm vào chiến tích thấy được, e dễ rơi vào cuồng vọng thắng người mà quên mất phải tự thắng chính mình, sự chiến thắng thượng thừa nhất của người luyện võ.