Môn Phái Võ Thuật

Giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển của các môn phái võ thuật, các tổ chức võ thuật, giải đấu...

Yoga Thể Thao Và Sức Khỏe

Chia sẻ các kiến thức về Yoga, giúp bạn có một cơ thể khỏe mạnh và dẻo dai. Cập nhật liên tục kiến thức tập luyện Yoga hiệu quả nhất.

Đạo Của Võ Học

Võ đạo là cái đạo của người học võ, cái đạo của con người sống trong trời, đất, được thể hiện một cách sinh động qua bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế-xã hội và cốt cách con nhà võ, cùng với quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu tâm, dưỡng tính gắn với các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng ngay từ lúc sinh ra đến khi nhắm mắt lìa đời.

Binh Khí Và Các Trang Bị Hỗ Trợ Tập Luyện

Binh Khí Võ Cổ Truyền Gồm 18 môn tương ứng với 18 món binh khí: côn, kiếm, đao, thương, giáo, kích, xà mâu, đinh ba, bồ cào, thiết bản, song tô, song xỉ, song câu, bút, phủ (búa), chuỳ, cung tên, lăn khiên.

Nhân Vật Giai Thoại

Lịch sử, thân thế sự nghiệp của các danh gia võ thuật. Chuyện về các kỳ tích, giai thoại cổ kim trong làng võ.

Showing posts with label Võ Khí. Show all posts
Showing posts with label Võ Khí. Show all posts

Saturday, January 28, 2017

9 loại vũ khí đáng sợ bậc nhất của ninja

Những loại vũ khí của ninja Nhật được xuất phát từ đời sống nên tính ứng dụng rất cao.

Ninja có rất nhiều loại vũ khí đáng sợ mang trong người
.
Họ đến như một làn gió. Họ biến mất như một làn khói. Tất cả được thực hiện trong đêm với các thủ thuật vượt quá năng lực người thường. Ninja – chiến binh bóng đêm siêu hạng luôn là nỗi khiếp sợ của bất kì lãnh chúa Nhật nào mỗi khi đêm xuống.

Để làm nên một ninja Nhật xuất quỷ nhập thần, leo tường, khoét vách, đi trên mặt nước hay ẩn mình, kĩ năng tự thân là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, một đặc trưng khác làm nên huyền thoại ninja chính là sự đa dạng của các dòng binh khí được dùng.
Số lượng vũ khí của ninja là rất lớn bởi thời gian phát triển trên 1.000 năm với những biến động lịch sử liên tục. Nội dung sau đây đề cập tới những binh khí đặc trưng, phổ biến nhất của ninja trong thực chiến:

Shuriken


Loại vũ khí phổ biến nhất của ninja là shuriken (phi tiêu hình sao). Shuriken có nhiều loại khác nhau nhưng hay dùng nhất là loại dẹt, phẳng hình ngôi sao. Trong thực tế có tới 50 loại shuriken khác nhau, chia làm 2 nhóm chính là “dạng phẳng” và “dạng que”.
Ninja sẽ dùng shuriken dựa vào tình hình thực tế. Họ thường phủ shuriken bằng một lớp muội than ở ngoài để tránh chú ý và không bị gỉ. Ngoài ra, bề mặt nhám của shuriken giúp bôi chất độc dễ hơn.

Kiếm ninja


Kiếm của ninja so với samurai thì rất khác vì ngắn và thẳng hơn. Chiều dài trung bình của kiếm ninja là 54 cm so với 70 cm của samurai. Kiếm ngắn giúp ninja cận chiến dễ hơn dù đây không phải là điều họ mong muốn. Ngoài ra, ninja hay hoạt động trong địa hình chật hẹp nên kiếm nhỏ dễ thao tác hơn là thanh dài. Đáng chú ý, tất cả những kiếm ninja được biết tới ngày nay đều được chế tạo từ thời Edo (1603-1868).
Hiện nay vẫn còn nhiều bí ẩn quanh chuyện tại sao ninja lại dùng kiếm vì đặc trưng của họ là lén lút chứ không phải cận chiến. Lí do được nhiều người chấp nhận là bởi ninja thời kì Edo chính là samurai “chuyển hóa” mà thành. Do đó, họ làm kiếm cầm theo bên người để nhắc nhở mình từng là một võ sĩ đạo.

Kusarigama


Kusarigama là một vũ khí có hình dạng như một lưỡi liềm và một quả chùy nối với nhau bằng đoạn xích dài. Chiều dài của dây xích có thể từ 1 tới 4 mét. Để sử dụng binh khí này, ninja sẽ ném quả chùy vào vũ khí đối phương khiến nó rớt xuống đất. Ngoài ra, ninja có thể dùng quả chùy ném và khóa chặt tay, chân đối thủ rồi vật ngã họ xuống đất. Sau đó, ninja dùng chiếc liềm để kết liễu kẻ thù.
Cách thức sử dụng Kusarigama rất đa dạng nên ninja có thể dùng cho nhiều mục đích khác nhau. Khả năng của ninja sẽ quyết định độ nguy hiểm của loại vũ khí này. Trước đây, Kusarigama thường dành cho nông dân, thợ thủ công hoặc thợ máy không được phép sử dụng kiếm như samurai. Tuy nhiên do tính linh hoạt nên ninja cũng dần sử dụng nó khi giao chiến.

Kunai


Đây được xem là thứ vũ khí nguy hiểm nhất của ninja, chỉ xếp sau shuriken. Kunai thường làm từ thép và hình dáng giống cái nêm. Một đầu của kunai giống mũi tên, đầu còn lại có thanh thép dài khoét lỗ tròn. Chiều dài của kunai từ 10 đến 48 cm, trọng lượng từ 1 tới 5 lạng.
Kunai thường dùng để vượt hàng rào hoặc tường của lâu đài. Đôi lúc, ninja cắm kunai vào tường và trèo vào lâu đài của đối phương. Kunai thường dùng để vượt các địa hình cao. Khi đó, ninja sẽ buộc dây thừng vào lỗ tròn và phi đầu nhọn lên cành cây hoặc bờ tường.
Ninja có thể dùng kunai như một con dao vì nó rất sắc hoặc đánh lửa thay thế cho diêm.

Makibishi


Đây là loại binh khí phân biệt rõ nhất giữa ninja và samurai. Một samurai là võ sĩ đạo, đồng nghĩa đầu hàng không có trong từ điển của họ. Nếu phải chết, họ sẵn sàng mổ bụng chính mình.
Ngược lại, ninja là lính do thám nên lẩn trốn và thoát thân là một phần của nhiệm vụ. Họ không cảm thấy nhục nhã khi làm điều này. Khi bỏ chạy, ninja sẽ vứt lại makibishi dọc đường để ngăn cản kẻ địch tiếp cận. Đây là loại chông với nhiều đầu sắc nhọn và làm bằng kim loại. Chỉ cần giẫm trúng chân thì đối phương sẽ buộc phải từ bỏ ý định truy sát ninja.

Tekko kagi


Tekko kagi là một loại dụng cụ thường được nông dân sử dụng, sau này ninja tận dụng và trở thành vũ khí riêng. Trước đây, Tekko kagi là một lưỡi liềm dùng để thu hoạch lúa nhưng được chế thành 4 lưỡi sắt như tay gấu và được đeo vào cổ tay.
Tekko kagi là loại vũ khí vừa dùng để tấn công, vừa dùng để phòng thủ. Khi cần, ninja đeo Tekko kagi bằng cả hai tay và lao vào cận chiến với đối phương.

Kakute


Kakute là loại binh khí gắn trong lòng bàn tay và có nhiều mũi nhọn nhô ra. Do kích thước rất nhỏ nên kakute có thể dùng để gây hại cho đối phương mà không bị phát hiện, đặc biệt ở vùng cổ và cánh tay. Khi tấn công bằng kakute, đối phương không chết mà chỉ bị thương và mất máu. Lúc này là cơ hội “vàng” để ninja bỏ trốn.
Nếu dùng kakute tấn công vào phần mắt, hậu quả sẽ là rất khôn lường. Ngoài ra, ninja có thể gắn thêm thuốc độc vào kakute để hạ thủ đối phương.

Mìn tay


Nhật Bản lần đầu biết tới súng là năm 1543 từ các thuyền buôn châu Âu. Ngay khi biết được sức mạnh của thuốc súng, ninja đã tìm cách sử dụng loại vũ khí mới này. Nhờ tự nghiên cứu, chế tạo, ninja sử dụng mìn tay như một loại vũ khí phổ biến để tiêu diệt kẻ thù.
Mìn tay ở Nhật được làm từ sulfur, than đá và diêm tiêu, sau đó nhồi thành một khối có dây dẫn bằng giấy bồi. Khi cần sử dụng, ninja sẽ châm lửa đốt dây cháy chậm và ném vào quân địch.

Các loại thuốc độc


Ninja thường sống trên núi cao nên họ cũng rất khéo tận dụng cây cỏ ở đây để điều chế thuốc độc. Từ bé, các ninja đã được đào tạo dược lý nên họ biết cây nào tốt cho sức khỏe, cây nào có thể giết người.
Ninja có thể hóa thân thành bác sĩ để lấy lòng tin của đối phương, sau đó ra tay hạ độc bằng các bài thuốc chết người. Thuốc độc được xem là vũ khí hiệu quả vì nó giết người rất nhanh và không để lại dấu vết.

Có lúc, ninja tẩm thuốc độc vào shuriken, phi tiêu để giết đối thủ chứ không chỉ gây ra thương tích đơn thuần. Thuốc độc được xem là vũ khí hiệu quả vì nó giết người rất nhanh và không để lại dấu vết.

Theo Quang Minh – Tổng hợp (Dân Việt)

Sunday, December 11, 2016

Tìm hiểu về Thuật ném phi tiêu

 Khó có thể nói đích xác thời điểm xuất hiện của thuật ném phi tiêu ở Nhật bản. Thời xa xưa, phụ nữ nhật đã biết sử dụng vài loại vũ khí gọn nhẹ để tự vệ như dao ngắn (Kaiken) vàcây trâm cài tóc (Kazashi). Dao vàtrâm thường dài độ 8-9cm vàtrong tầm gần, chúng có thể được ném đi như phi tiêu. Với kích thước nhỏ bé dễ cất dấu, mũi bén nhọn thường tẩm thuốc độc, một cây trâm cài tóc khi hữu sự trở nên vô cùng nguy hiểm.


1. LỊCH SỬ CỦA THUẬT NÉM PHI TIÊU:

Khó có thể nói đích xác thời điểm xuất hiện của thuật ném phi tiêu ở Nhật bản. Thời xa xưa, phụ nữ nhật đã biết sử dụng vài loại vũ khí gọn nhẹ để tự vệ như dao ngắn (Kaiken) vàcây trâm cài tóc (Kazashi). Dao vàtrâm thường dài độ 8-9cm vàtrong tầm gần, chúng có thể được ném đi như phi tiêu. Với kích thước nhỏ bé dễ cất dấu, mũi bén nhọn thường tẩm thuốc độc, một cây trâm cài tóc khi hữu sự trở nên vô cùng nguy hiểm. Thuật ném phi tiêu Shuriken-Jutsu (Shuriken: phi tiêu; Jutsu: nghệ thuật) bắt nguồn từ cách sử dụng những mũi dao nhọn làm bằng sắt hay thép dài từ 7-22cm. Sau đó là sự phát triển của đoản kiếm (Tanto) và cuối cùng lại trở về với phi tiêu. Có thể đoản kiếm không được chuộng vì đắt tiền và không tiện để ném, không thể mang theo người nhiều như phi tiêu. Hiện nay võ Nhật có 3 trường phái sử dụng phi tiêu được biết đến nhiều nhất: Negishi-ryu, Shirai-ryu vàChisin-ryu.

2. CÁC LOẠI PHI TIÊU KHÁC NHAU:



Căn cứ vào hình dạng, chúng ta có khoảng 20 loại phi tiêu. Có loại nhọn 1 đầu, có loại nhọn cả 2 đầu; dài, ngắn, dầy, mỏng…khác nhau. Dù mang hình dáng nào, phi tiêu cũng phải đáp ứng được hai đòi hỏi tiên quyết:
– Gọn, nhỏ dễ mang theo người.
– Khi được ném ra, chúng phải khó thấy để né tránh.
Điều nầy giải thích tại sao khi sử dụng phi tiêu, người ta thường để cho địch thủ đến gần. Khoảng cách càng ngắn, tiêu ném càng chính xác, bất ngờ.

3. CẦM PHI TIÊU:

Phi tiêu được nằm gọn trong lòng bàn tay với 4 ngón duỗi thẳng, ngón cái giữ phi tiêu ở vị trí cố định. Đầu nhọn có thể hướng ra phía đầu ngón tay hay quay về phía cổ tay.
Nếu nhắm vào mục tiêu ở gần, ta để cho phần mũi nhọn ló ra khỏi các đầu ngón tay nhiều và ngược lại, ta cầm phi tiêu với mũi nhọn thấp khi muốn ném xa.

4. KỸ THUẬT NÉM PHI TIÊU:

Trước hết, khi ném phải giữ cổ tay thật thẳng. Nếu bạn cong hay quặc cổ tay, mũi phi tiêu sẽ xoáy quá đà trên đường tới đích.
Kế đến là khoảng cách từ bạn đến đích. Kỹ thuật ném thay đổi tùy theo khoảng cách xa hay gần. Phi tiêu khi được ném ra sẽ xoay theo vòng tròn trước khi chạm đích. Bạn phải tính toán được số vòng quay của phi tiêu tùy theo đích ném xa hay gần. Ở tầm ném gần, phi tiêu chỉ xoay 1/2 vòng trước khi đến đích. Ở khoảng cách xa, phi tiêu sẽ xoay 1 vòng hay nhiều vòng. Nếu ném gần, chú ý cách cầm phi tiêu với mũi nhọn ra khỏi đầu ngón tay nhiều, bước chân bỏ tới rộng, chồm người về phía trước khi ném, phi tiêu sẽ đi nhanh và mạnh hơn.
Khi ném xa, cầm phi tiêu thấp hơn so với khi ném gần, đứng thẳng người, nhắm kỹ trước khi ném.
Khi bắt đầu tập luyện, nên đứng gần đích độ vài mét. Nếu bạn cầm phi tiêu mũi nhọn hướng ra phía đầu ngón tay, khi ném nó sẽ bay thẳng tới đích, không xoay vòng. Sau đó bạn bước lui xa thêm vài bước nữa. Cứ thế mà bạn tìm ra khoảng cách thích hợp cho phi tiêu xoay đủ một vòng trước khi đến đích. Với một người tầm vóc trung bình, khoảng cách đó nằm trong khoảng 4-5m. Tiếp tục đứng xa dần đích, tìm khoảng cách thích hợp cho 1 vòng rưởi, 2 vòng và hơn nữa. Nếu bạn thuận tay phải, đứng chân phải trước, khi ném chân trái bước lên. Nếu phi tiêu chạm ngay đích với mũi nhọn hướng lên, bạn bước lui 1 hay 2 bước.
Nếu phi tiêu chạm đích với mũi quay xuống, bạn bước lên 1 hay 2 bước. Nếu phi tiêu chạm đích với phần đuôi không nhọn hoặc có lúc xoay mũi lên, có lúc xoay xuống, bạn nên chú ý lại cổ tay, có thể bạn đã cong cổ tay khi ném. Mỗi khi tìm ra khoảng cách thích hợp, đánh dấu điểm đứng hay đo khoảng cách đó. Dần dần bạn sẽ quen ước lượng và chọn đúng khoảng cách thích hợp cho mỗi lần ném. Sự chính xác sẽ hoàn thiện dần qua quá trình tập luyện kiên trì.

5. CHỌN ĐÍCH NÉM PHI TIÊU:

Việc chọn đích thích hợp để tập ném khá đơn giản. Bạn có thể chọn những miếng ván dầy 4-5cm, dài độ 1-1,2m, đóng dính lại bằng 2 miếng gỗ chéo ở 2 mặt sau. Nên chọn loại gỗ thông vì chúng có độ mềm thích hợp cho việc luyện tập. Gốc cây, bức tường gỗ của căn nhà bỏ hoang… tất cả đều có thể biến thành đích ném, miễn là phi tiêu cắm vào được. Nếu muốn, bạn có thể sơn những vòng đồng tâm trên gỗ để tập.

6. AN TOÀN TRONG LUYỆN TẬP NÉM PHI TIÊU:

Dù nhỏ bé nhưng phi tiêu làmột vũ khí nguy hiểm nếu như bạn sử dụng bất cẩn. Trong lúc tập ném, phải hết sức thận trọng, không để người xem đến gần đường ném và đích. Phi tiêu có thể bị nẩy dội khi chạm đích, văng ra chung quanh. Đừng ném bừa bãi vào của cải vật chất công cộng hay cá nhân, cất giữ ngoài tầm tay của trẻ con.

7. CÁCH LÀM PHI TIÊU:

Phi tiêu được làm bằng thép, chiều dài 14cm và18cm là thích hợp nhất, nhọn một đầu. Phần nhọn khoảng 2,5cm tính từ mũi. Bạn nên làm nhiều phi tiêu để dễ tập, đỡ mất thời gian phải đi lại thu hồi các phi tiêu đã ném. Các võ sĩ đạo thường mang theo người 5-6 phi tiêu một lúc.


Nguyễn Dương Linh Vũ  http://www.vo.edu.vn/








Friday, December 2, 2016

Roi mây và roi Bạch lạp (Trung Quốc)

Nếu các bạn đã xem phim võ thuật Trung Quốc hẳn đã thấy những cây côn, thương, cung tên… rất đẹp và dẻo dai. Sở dĩ như vậy vì chúng được làm từ một loại gỗ đặc biệt, có tên Bạch Lạp.




Từ những cây gỗ được người dân Hà Nam trồng để chắn gió, chắn cát, ngăn xói mòn đất, trải qua hàng năm trời ở những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã làm cho loại gỗ này có những đặc tính không thể tìm thấy ở loại gỗ nào khác: cứng nhưng không giòn, mềm nhưng không gãy, có thể uốn cong 180*, mật độ sợi gỗ dày, mạnh mẽ nơi khô ráo, không trương phình, không biến dạng nơi ẩm ướt. Khi dùng lâu trong gỗ sẽ tự tiết ra một lớp sáp, càng dùng càng bóng. Là nguyên liệu tốt nhất để sản xuất binh khí võ thuật.

Sau quá trình bóc vỏ, gia công bằng máy tiện CNC sẽ tạo ra những cây gỗ thẳng tắp, tròn đẹp, trắng như tuyết và có độ bám dính. Hiện ở Việt Nam, binh khí võ thuật chủ yếu được làm bằng song và gỗ thường, Bạch Lạp có nhiều lợi điểm mà song mây không thể nào so sánh được:
– Độ cứng, dẻo dai và khả năng hấp thụ, phát lực cực chuẩn: Song thuộc họ mây, thân thuộc dạng sợi mềm nên có dẻo nhưng khả năng uốn phát lực kém, nếu làm một cây trường thương hoặc trường côn người tập sẽ có cảm giác mềm oặt, khó điều khiển, lực phát ra không chính xác. Tất cả những nhược điểm này sẽ được khắc phục.
– Tính thẩm mỹ: Bề mặt song gồ ghề, nhiều nốt khuyết, đường kính thường nhỏ, thường bị cong, không thẳng, không thể trang trí. Nếu dùng gỗ Bạch Lạp ngoài vẻ đẹp sẵn có có thể dễ dạng chạm khắc, sơn vẽ giúp sản phẩm trông bắt mắt, có dấu ấn riêng và có hồn.
– Độ bám dính: Khi tập luyện mồ hôi tay ra nhiều làm cho binh khí dễ trơn tuột, song mây với bề mặt bóng gây rất nhiều khó khăn. Bạch Lạp với những vân gỗ tự nhiên giúp tay cầm bám chắc, động tác chuẩn xác.

Sưu tầm

Monday, November 14, 2016

Bất ngờ đằng sau cây côn nhị khúc của Lý Tiểu Long

Nhiều người đã ví cây côn nhị khúc chính là “cánh tay thứ ba” của vị “Vua kungfu” - Lý Tiểu Long.

Cách chọn binh khí... khác người
Sinh thời, huyền thoại võ thuật Lý Tiểu Long luyện võ hàng ngày ngay từ khi còn rất nhỏ.
Nhưng không giống các các võ sĩ gốc Trung Hoa thường luyện với nhiều loại binh khí khác nhau (kiếm, trường côn, đao, thương…) thì “Vua kungfu” hầu như chỉ luyện loại binh khí duy nhất đó là côn nhị khúc.